Dấu hiệu của ung thư đại tràng

      186
Giai đoạn 0: Là giai đoạn sớm nhất, còn gọi là ung thư tại chỗ. Lúc này, các tế bào ung thư chưa phát triển vượt quá lớp niêm mạc của đại trực tràng.

Bạn đang xem: Dấu hiệu của ung thư đại tràng

Giai đoạn I: Ung thư phát triển vượt quá lớp niêm mạc và bắt đầu xâm lấn các lớp tiếp theo như lớp dưới niêm mạc và lớp cơ, nhưng chưa lan đến các hạch bạch huyết lân cận.Giai đoạn II: Ung thư phát triển qua thành đại trực tràng và có thể lan đến một số cấu trúc lân cận, nhưng chưa xâm lấn các hạch bạch huyết.Giai đoạn III: Tế bào ung thư lan ra các hạch bạch huyết lân cận, nhưng chưa di căn xa.Giai đoạn IV: Ung thư lan ra một hoặc nhiều cơ quan xa trên cơ thể như gan hoặc phổi.
*

Nguyên nhân gây ung thư đại trực tràng chưa được xác định, nhưng bạn có thể mắc bệnh nếu có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ của bệnh.

Các yếu tố nguy cơ của ung thư đại trực tràng

Các yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng bị ung thư đại trực tràng gồm có:

Trên 50 tuổi: Nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng tăng theo tuổi. Khoảng 90% số ca mắc ung thư đại trực tràng xảy ra ở người trên 50 tuổi.Có polyp ở đại trực tràng: Polyp là một tập hợp nhiều tế bào, có hình dáng giống u nhưng không phải u, kích thước nhỏ, lành tính, thường không biểu hiện hoặc biểu hiện rất ít triệu chứng. Theo thời gian, những polyp này có thể phát triển thành ung thư.Có thành viên trong gia đình mắc ung thư đại trực tràng: Bệnh ung thư đại trực tràng có tính di truyền cao. Quan hệ họ hàng càng gần, nguy cơ mắc bệnh càng cao.Đã mắc ung thư trước đó như ung thư đại trực tràng, và ở phụ nữ là ung thư buồng trứng, ung thư tử cung hoặc ung thư vú: Bệnh nhân từng mắc ung thư đại trực tràng có khả năng phát triển ung thư tại các vị trí khác ở đại trực tràng. Nguy cơ tái mắc cao hơn nếu bệnh nhân mắc bệnh từ khi còn trẻ.Bị viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn (viêm đại tràng): Bệnh nhân bị viêm loét đại tràng trong thời gian dài, đặc biệt nếu không được điều trị, sẽ dẫn đến tình trạng loạn sản, theo thời gian có thể phát triển thành ung thư.Hút thuốc: Những người hút thuốc trong thời gian dài có nguy cơ phát triển và tử vong do ung thư đại trực tràng cao hơn người không hút thuốc.Có chế độ ăn nhiều mỡ và ít ăn trái cây, rau quả: Chế độ ăn nhiều dầu mỡ và phương pháp chế biến thịt ở nhiệt độ rất cao (chiên, nướng) sẽ tạo ra các hóa chất làm tăng nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng. Thiếu vitamin D cũng có thể gia tăng khả năng mắc bệnh.

Xem thêm: Mua Số Lô Đề Hôm Nay Uy Tín Chuẩn, Dự Đoán Kqxs Kiên Giang

Ngăn ngừa ung thư đại trực tràng

Nếu bạn có một trong các yếu tố nguy cơ trên, hãy chủ động đến gặp bác sĩ để được tư vấn, khám và sàng lọc. Ngoài ra, nếu một trong các triệu chứng sau xảy ra một cách dai dẳng, bạn cần nhanh chóng đến khám bác sĩ:

Tiêu chảy hoặc táo bón kéo dàiChảy máu trực tràng hoặc phân dính máuCảm giác khó chịu dai dẳng ở vùng bụng, bao gồm co thắt, đầy hơi hay đauCảm giác đại tiện không hếtSuy nhược hoặc mệt mỏiSút cân không rõ nguyên nhân

Ngoài sàng lọc định kỳ, các yếu tố liên quan đến lối sống cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu nguy cơ ung thư đại trực tràng. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hạn chế ăn mỡ động vật, sử dụng rượu bia, không hút thuốc lá, tăng cường ăn hoa quả, rau xanh, ngũ cốc nguyên hạt và tập thể dục có thể giúp giảm nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng.


*

Những dấu hiệu cảnh báo ung thư trực tràng::

Thay đổi thói quen đại tiện (tiêu chảy hoặc táo bón)Cảm thấy buồn nôn hoặc nônCảm giác đi đại tiện không hếtThường xuyên cảm thấy rất mệt mỏiThấy máu (hoặc đỏ tươi hoặc sẫm màu) trong phânNhận thấy phân nhỏ hơn bình thườngThường xuyên bị đau do đầy hơi hoặc co rút, hoặc cảm thấy căng tức hoặc đầy hơiSụt cân không rõ nguyên nhân
*

Cách điều trị phổ biến nhất cho ung thư đại trực tràng là phẫu thuật để loại bỏ u.

Phẫu thuật

Phẫu thuật cắt bỏ ung thư đại trực tràng có thể theo một trong hai phương pháp sau:

Phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, được thực hiện bằng phương pháp phẫu thuật nội soi ổ bụng (phẫu thuật lỗ khóa). Để thực hiện thủ thuật này, bác sĩ phẫu thuật tiến hành rạch khoảng 4 – 5 vết mổ nhỏ, mỗi vết dài khoảng 1cm trên bụng bệnh nhân. Tiếp đó, một ống nội soi dài, mảnh có gắn camera và đèn ở đầu được đưa vào qua một trong các vết mổ nhằm giúp phẫu thuật viên quan sát phẫu trường. Hình ảnh thu được qua camera được hiển thị liên tục trên màn hình trong toàn bộ quá trình phẫu thuật. Phần đại tràng ung thư sẽ được loại bỏ bằng các dụng cụ phẫu thuật nhỏ đưa vào qua những vết mổ còn lại.

Mổ hở để loại bỏ ung thư và một số các mô đại tràng và hạch bạch huyết (tuyến) lân cận khi cần thiết. Phẫu thuật mở được tiến hành thông qua một vết mổ dài duy nhất trên bụng bệnh nhân bằng cách rạch một đường thẳng kéo dài từ ngay đầu dưới xương ức tới trước xương mu. Tùy vào vị trí ung thư, phẫu thuật điều trị ung thư đại trực tràng được chia thành nhiều loại: cắt toàn bộ đại tràng, cắt một phần đại tràng, cắt đại tràng trái, cắt đại tràng phải, cắt trước, cắt cụt trực tràng qua đường bụng-tầng sinh môn.

Các phương pháp điều trị khác có thể được áp dụng trước hoặc sau phẫu thuật, bao gồm:

Hóa trị

Hóa trị giúp phá hủy các tế bào ung thư.Hóa trị là phương pháp điều trị dùng thuốc có chứa những hóa chất mạnh để tiêu diệt các tế bào tăng sinh nhanh trong cơ thể. Hóa trị là một liệu pháp điều trị hệ thống, có tác dụng trên toàn cơ thể, có thể tiêu diệt cả các tế bào ung thư đã di căn ra các cơ quan xa khối u nguyên phát nhưng đồng thời ảnh hưởng lên cả tế bào khỏe mạnh.Có nhiều loại thuốc hóa trị khác nhau. Chúng có thể được dùng độc lập hoặc kết hợp để điều trị nhiều loại ung thư.Có thể dùng hóa trị làm phương pháp điều trị chính và duy nhất cho bệnh nhân mà không cần kết hợp với các phương pháp khác.Nếu lựa chọn phác đồ điều trị kết hợp phẫu thuật và hóa trị, có thể tiến hành hóa trị sau khi phẫu thuật nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại trong cơ thể. Phương pháp này gọi là hóa trị bổ trợ. Bác sĩ cũng có thể tư vấn dùng hóa trị trước khi tiến hành phẫu thuật (hóa trị tân bổ trợ) để làm giảm kích thước khối u, giúp dễ dàng loại bỏ khối u hơn.Hóa trị còn có tác dụng làm giảm nhẹ triệu chứng ung thư thông qua việc tiêu diệt tế bào ung thư (hóa trị giảm nhẹ).

Xạ trị

Xạ trị cũng nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư.Xạ trị là phương pháp tiêu diệt tế bào ung thư bằng cách dùng tia X mang năng lượng cao hay các chất phóng xạ tác động vào khu vực có tế bào ung thư, khiến ADN của các tế bào ung thư bị phá hủy và do đó những tế bào này không thể phân chia và sau đó chết đi.Phương pháp này chỉ tác động trực tiếp lên các tế bào ung thư ngay vùng xạ trị. Các tế bào bình thường xung quanh cũng có thể bị ảnh hưởng, nhưng hầu hết sẽ hồi phục và hoạt động bình thường trở lại.Xạ trị đạt hiệu quả cao nhất khi được dùng làm liệu pháp bổ trợ trước hoặc sau phẫu thuật.Trong trường hợp bệnh nhân không thể thực hiện phẫu thuật hoặc ung thư đã tiến triển đến giai đoạn cuối, không còn khả năng cứu chữa, có thể sử dụng xạ trị để thu nhỏ kích thước u và giảm nhẹ triệu chứng, giúp bệnh nhân cảm thấy dễ chịu hơn.Đối với một số loại ung thư có thể điều trị bằng cả xạ trị và phẫu thuật, phương pháp xạ trị sẽ được ưu tiên sử dụng do gây ít tổn thương hơn và khả năng hồi phục cao hơn.Ngoài các tác dụng trên lâm sàng, xạ trị còn được đánh giá là phương pháp ít gây ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân. Các đợt xạ trị thường diễn ra trong ngày, với thời gian chưa đến một giờ đồng hồ, do đó bệnh nhân không cần nhập viện, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí.

Liệu pháp nhắm đích

Liệu pháp nhắm đích phá hủy hoặc ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư.Phương pháp này sử dụng các loại thuốc hoặc chất khác để ngăn chặn sự phát triển và lan rộng của tế bào ung thư bằng cách tác động vào các protein điều khiển những quá trình này.Trong hầu hết các trường hợp, bệnh nhân cần tiến hành sinh thiết khối u để kiểm tra xem mình có phù hợp với các liệu pháp nhắm đích hiện có hay không. Mỗi loại thuốc chỉ có hiệu quả đối với một số đột biến gen cụ thể. Nếu khối u của bệnh nhân không có đột biến đó, việc áp dụng phương pháp này sẽ trở nên vô nghĩa.